Tìm hiểu về động cơ hai kỳ và động cơ bốn kỳ

Động cơ là một bộ phận không thể thiếu của máy móc. Tùy vào cấu tạo và mục đích sử dụng mà mỗi thiết bị lại sử dụng những động cơ khác nhau.

Bài viết dưới đây trình bày những thông tin cơ bản để bạn có thể phân biệt giữa động cơ hai kỳ và động cơ bốn kỳ.

Hình ảnh về động cơ hai kỳ

1. Động cơ hai kỳ

Động cơ hai kỳ là một loại động cơ đốt trong thường được chế tạo theo kiểu động cơ có pít tông đẩy. Động cơ hai kỳ cần thiết để tạo ra năng lực được hoàn thành trong một vòng quay của trục khuỷu. Một thì là chuyển động của pít tông từ một trạng thái tĩnh theo một hướng về trại thái tĩnh mới (chuyển động từ một điểm chết này về đến điểm chết kia). Trục khuỷu hoàn thành nửa vòng quay trong một kỳ. Loại động cơ diesel  của động cơ hai thì vẫn còn được sử dụng trong tàu hỏa, tàu thủy, các máy phát điện, máy cắt, máy cưa,… Hầu hết chúng đều là những động cơ có công suất nhỏ, tuy có những ngoại lệ như xe Jawa của Tiệp dung tích tới 350 và 360cc, hay như những chiếc ôtô của hãng Audi trước đây .

Cấu tạo động cơ hai kỳ bao gồm: Buồng đốt, Bugi (nến đánh lửa), đường thải, van lưỡi gà, đường nạp hoà khí vào, hộp trục khuỷu và hoà khí.

Nguyên lý hoạt động của động cơ 2 kỳ:

Kỳ đầu: Piston sẽ di chuyển từ ĐCT (Điểm chết trên) xuống ĐCD (Điểm chết dưới) lúc này hỗn hợp nhiên liệu và không khí sẽ được đưa vào trong buồng đốt. Trục khuỷu sẽ quay được nửa vòng tròn (180 độ).

Kỳ sau: Piston di chuyển từ ĐCD lên đến ĐCT lúc này hỗn hợp nhiên liệu sẽ bị nén lại đồng thời bugi đánh lửa sẽ đánh lửa và đốt cháy nhiên liệu. Nhiên liệu đốt cháy trong buồng đốt và cung cấp năng lượng cho Piston đẩy Piston đi xuống Piston sẽ truyền năng lượng đó cho trục khuỷu thông qua thanh truyền.

Trong kỳ sau cửa nạp được mở ra và hỗn hợp nhiên liệu sẽ được đưa vào buồng đốt và chuẩn bị để được đưa vào trong buồng đốt. Khi Piston đi xuống cửa nạp được đóng lại và đồng thời hòa khí sẽ được đưa vào bên trong buồng đốt và khi thải sẽ bị thải ra ngoài nhờ vào áp lực của hòa khí, khí thải thoát ra ngoài thông qua cửa thoát

Ưu – nhược điểm của động cơ 2 kỳ:

  • Ưu điểm: Cùng dung tích xi-lanh cho công suất gấp đôi; cấu tạo đơn giản.
  • Nhược điểm: Kém bền, gây ô nhiễm cao, hao nhiên liệu hơn.
Một buổi định hướng nghề nghiệp của sinh viên HPC

2. Động cơ bốn kỳ

Động cơ bốn thì là một loại động cơ đốt trong ra đời đầu thế kỷ 20, nó gồm bốn hành trình riêng biệt: nạp, nén, nổ, xả khi piston dịch chuyển lên xuống hai lần trong một chu kỳ làm việc. Ngày nay động cơ bốn kỳ đã trở thành động cơ phổ biến, khó có thể có động cơ nào thay thế được trong ngành công nghệ ô tô.

Cấu tạo của động cơ 4 kỳ bao gồm: Piston; trục khuỷu; thanh truyền; đối trọng, bugi; xupap nạp và xupap xả.

Nguyên ý hoạt động của động cơ 4 kỳ:

Kỳ 1: Piston sẽ di chuyển từ ĐCT (Điểm chết trên) xuống ĐCD (Điểm chết dưới) Đồng thời xupap nạp được mở ra mà hòa khí sẽ đi vào trong buồng đốt, Xupap xả đóng lại và đồng nghĩa với việc trục khuỷu sẽ quay 180 độ

Kỳ 2: Piston sẽ di chuyển từ ĐCD đến ĐCT để nén hòa khí lại đồng thời Xupap nạp đóng lại tất nhiên Xupap xả cũng đóng; trục khuỷu quay 180 độ.

Kỳ 3: Bugi đánh lửa đốt cháy hòa khí cung cấp năng lượng cho Piston. Piston sẽ di chuyển từ ĐCT xuống ĐCD. Lúc này cả Xupap xả và Xupap nạp đều đóng lại, trục khuỷu quay một góc 180 độ

Kỳ 4: Piston di chuyển từ ĐCD lên ĐCT đồng thời Xupap xả mở ra để khí thải được thoát ra ngoài động cơ, Xupap nạp vẫn đóng thanh truyền sẽ quay một góc 180 độ

Ưu – nhược điểm của động cơ 4 kỳ:

  • Ưu điểm: Tiết kiệm nhiên liệu; ít gây ô nhiễm; bền và lành tính.
  • Nhược điểm: Công suất nổi trội; cấu tạo phức tạp.